Danh sách hội chợ triển lãm

Bản tin Xuất - Nhập khẩu

Thống kê

  • Đang truy cập: 18
  • Khách viếng thăm: 17
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 4281
  • Tháng hiện tại: 74917
  • Tổng lượt truy cập: 9636552

Quảng cáo










Hỗ Trợ Trực Tuyến

Hội chợ - Triển lãm
033 3626 720
hoichotrienlam@qnitrde.gov.vn
Đào tạo - Tập huấn
033 2476 066
daotaotaphuan@qnitrde.gov.vn
Hỗ trợ doanh nghiệp
033 3626 728
hotrodoanhnghiep@qnitrde.gov.vn
Thương mại điện tử
033 3626 728
thuongmaidientu@qnitrde.gov.vn
qnitrade_tmdt

Qnitrade   Bản tin Xuất - Nhập khẩu  

Thái Lan có nhu cầu tiêu thụ cao đối với hàng nông, thủy sản

Đăng lúc: Thứ tư - 01/04/2020 15:28 - Người đăng bài viết: Quản trị mạng
Thái Lan là một trong những cường quốc sản xuất nông nghiệp với nhiều mặt hàng trong nhóm dẫn đầu thế giới như gạo, cao su, nhiều loại trái cây... Tuy vậy, đây cũng là nước có nhu cầu nhập khẩu lớn hàng, nông, lâm, thủy sản từ thế giới. Theo dữ liệu từ Trung tâm công nghệ thông tin và truyền thông Thái Lan, nhập khẩu nông, lâm, thủy sản (gọi tắt là nông sản) vào Thái Lan năm 2019 đạt 13,424 tỷ USD, tăng 2,6% so với năm 2018. Tính riêng 2 tháng đầu năm 2020, nhập khẩu hàng nông sản vào Thái Lan đạt 2,4 tỷ USD, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2019.
Về cơ cấu thị trường:
     Thái Lan nhập khẩu hàng nông sản từ 139 quốc gia và vùng lãnh thổ trong 2 tháng đầu năm 2020, trong đó, Trung Quốc và Mỹ là 2 nguồn cung hàng nông sản lớn nhất của Thái Lan, chiếm 26% tổng trị giá nhập khẩu. Trong đó, thị phần hàng nông sản của Trung Quốc tại Thái Lan giảm xuống mức 13,2% từ mức 15,4% trong 2 tháng đầu năm 2019; thị phần hàng nông sản của Mỹ tại Thái Lan cũng giảm xuống 12,9% từ mức 16,1% trong 2 tháng đầu năm 2019. Một số thị trường có thị phần hàng nông sản tăng tại Thái Lan trong 2 tháng đầu năm 2020 như Myanma đạt 5,8% từ mức 2,5% trong 2 tháng đầu năm 2019; Australia tăng lên 5,2% từ mức 4%; Lào tăng lên 4% từ mức 2,3%; Indonesia tăng lên 4% từ mức 2,4%...
Việt Nam là nguồn cung hàng nông sản lớn thứ 6 vào Thái Lan, chiếm 4,9% thị phần trong 2 tháng đầu năm 2020, tăng từ mức 2,5% trong 2 tháng đầu năm 2019.

Về cơ cấu mặt hàng:

     Trong cơ cấu hàng nông sản nhập khẩu vào Thái Lan 2 tháng đầu năm 2020, nước này chủ yếu nhập khẩu hàng thủy sản chưa qua chế biến (HS 03), chiếm 20,7% tổng trị giá nhập khẩu; tiếp đến là mặt hàng hạt và quả có dầu, các loại ngũ cốc, hạt và quả khác, cây công nghiệp, cây dược liệu (HS 12), chiếm 11,7%, rau và một số loại củ, thân củ, rễ ăn được (HS 07) chiếm 11%...
     So với 2 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu một số hàng nông sản vào Thái Lan tăng khá trong 2 tháng đầu năm 2020 như nhập khẩu rau và một số loại củ, thân củ, rễ ăn được (HS 07) tăng 10,7%; ngũ cốc (HS 10) tăng 11,7%, trong đó, nhập khẩu gạo (HS 1006) tăng 97,5%; Quả và quả hạch ăn được, vỏ quả thuộc chi cam quýt hoặc các loại dưa (HS 08) tăng 32%, trong đó nhập khẩu hạt điều (HS 080131 và 080132) tăng 26,2%; Các sản phẩm chế biến ăn được khác (HS 21) tăng 24,4%; nhập khẩu cà phê, chè và các loại gia vị tăng 13,6%, trong đó, nhập khẩu cà phê tăng 59%...

Một số mặt hàng nông sản nhập khẩu vào Thái Lan 2 tháng đầu năm 2020

 
 
 
HS
 
 
Mặt hàng
Thái Lan nhập khẩu từ thế giới (Đvt: triệu USD) Thị phần hàng Việt Nam tại Thái Lan (%)
2 tháng đầu năm 2019 2 tháng đầu năm 2020 So sánh (%) 2 tháng đầu năm 2019 2 tháng đầu năm 2020
  Tổng 2.409,3 2.455,8 1,9 3,5 4,9
03 Cá và động vật giáp xác, động vật thân mềm và động vật thuỷ sinh không xương sống khác 611,7 508,3 -16,9 5,8 6,7
 
12
Hạt và quả có dầu; các loại ngũ cốc, hạt và quả khác; cây công nghiệp hoặc cây dược liệu; rơm rạ và cây làm thức ăn gia súc  
275,1
 
287,1
 
4,4
 
0,2
 
0,1
07 Rau và một số loại củ, thân củ, rễ ăn được 243,6 269,7 10,7 0,6 0,7
10 Ngũ cốc 187,8 209,7 11,7 0,0 0,1
1006 Gạo 1,4 2,7 97,5 0,0 6,9
40 Cao su và các sản phẩm bằng cao su 219,9 206,4 -6,1 0,2 0,2
08 Quả và quả hạch ăn được, vỏ quả thuộc chi cam quýt hoặc các loại dưa 150,5 198,7 32,0 10,4 21,0
0801 Hạt điều 10,6 13,3 26,2 93,1 89,8
21 Các sản phẩm chế biến ăn được khác 142,7 177,6 24,4 5,6 10,8
 
04
Sữa và các sản phẩm từ sữa; trứng chim và trứng gia cầm, mật ong tự nhiên, sản phẩm ăn được gốc động vật, chưa được chi tiết hoặc ghi ở nơi khác  
137,3
 
154,3
 
12,4
 
0,1
 
0,1
44 Gỗ và các mặt hàng bằng gỗ, than củi 97,0 88,5 -8,7 6,7 9,2
09 Cà phê, chè và các loại gia vị 50,6 57,5 13,6 7,2 6,5
0901 Cà phê 2,9 4,7 59,0 30,2 16,6
0904 Hạt tiêu 3,3 3,4 4,8 62,4 69,5
0902 Chè 2,9 2,3 -18,7 19,0 16,9
20 Sản phẩm chế biến từ rau, quả, hạt và các phần khác của cây 50,5 56,2 11,3 1,3 1,2
11 Các sản phẩm xay xát, malt, tinh bột, inulin; gluten lúa mì 45,0 53,1 18,2 7,1 6,0

 
 
HS
 
 
Mặt hàng
Thái Lan nhập khẩu từ thế giới (Đvt: triệu USD) Thị phần hàng Việt Nam tại Thái Lan (%)
2 tháng đầu năm 2019 2 tháng đầu năm 2020 So sánh (%) 2 tháng đầu năm 2019 2 tháng đầu năm 2020
02 Thịt và phụ phẩm dạng thịt ăn được sau giết mổ 35,1 38,9 10,7 0,00005 -
 
16
Các sản phẩm chế biến từ thịt, cá, động vật giáp xác hay động vật thân mềm, hoặc động vật không xương sống sống dưới nước khác  
51,5
 
38,4
 
-25,4
 
14,7
 
14,5
1604 Thủy sản đã qua chế biến 46,1 33,3 -27,8 16,4 16,7
18 Cacao và các sản phẩm chế biến từ cacao 30,4 31,8 4,4 0,2 0,3
13 Nhựa cánh kiến đỏ, gôm, nhựa cây, các chất nhựa và các chất chiết suất từ thực vật khác 17,7 18,2 3,1 0,00014 0,00003
94 Đồ nội thất bằng gỗ 18,6 16,6 -10,8 2,1 2,5
01 Động vật sống 16,2 16,4 1,5    
05 Các sản phẩm gốc động vật, chưa được chi tiết hoặc ghi ở các chương khác 9,9 10,4 5,2 0,5 0,2
14 Nguyên liệu thực vật dùng để tết bện, các sản phẩm thực vật chưa được chi tiết 10,6 9,8 -8,0 1,1 0,6
Nguồn: Trung tâm công nghệ thông tin và truyền thông Thái Lan

Một số yếu tố tác động đến nhu cầu hàng nông sản của Thái Lan và cơ hội đối với Việt Nam

    Việc Thái Lan tăng nhập khẩu hàng nông sản sẽ là cơ hội lớn đối với Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp trên toàn cầu.
     Với những lợi thế về vị trí địa lý, nguồn nông sản có giá cạnh tranh, chất lượng ngày càng tăng... Việt Nam đang xuất khẩu tốt nhiều mặt hàng nông sản, đặc biệt là trái cây, rau củ tươi sang Thái Lan.
     Ngoài ra, Việt Nam còn có lợi thế xuất khẩu vào Thái Lan khi cộng đồng Việt kiều đông đảo đang sinh sống tại nước này. Trong số đó, nhiều người sở hữu các siêu thị, cửa hàng phân phối và cung cấp hàng hóa, đây là điều kiện thuận lợi để tiếp thị hình ảnh nông sản Việt Nam với người dân Thái Lan.
Bên cạnh đó, thời gian gần đây, rất nhiều tập đoàn Thái Lan đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam. Đây là thuận lợi để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản nói riêng và các mặt hàng trái cây, rau củ vào thị trường này. Điển hình như hàng năm, Tập đoàn Central Group với chuỗi siêu thị BigC đều phối hợp với Bộ Công Thương để tổ chức các chương trình xúc tiến hàng Việt Nam vào Thái Lan...
     Nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam chiếm thị phần tương đối lớn tại Thái Lan trong 2 tháng đầu năm 2020 như mặt hàng quả, quả hạch ăn được (HS 08), chiếm 21%; hạt điều chiếm 89,8%; mặt hàng hạt tiêu chiếm 69,5%; chè (HS 0902, HS 0903) chiếm 16,9%... đặc biệt, thị phần gạo (HS 1006) của Việt Nam tại Thái Lan chiếm 6,9%, trước đó, năm 2019, thị phần gạo của Việt Nam tại Thái Lan đã tăng lên mức 21,1% từ mức 5,1% trong năm 2018...
     Tuy nhiên, theo Cục Nông nghiệp Thái Lan, các mặt hàng trái cây, rau củ muốn nhập khẩu vào Thái Lan phải tuân thủ các quy định trong bộ tiêu chuẩn về nông nghiệp Thái Lan, trong đó có 2 loại giấy phép quan trọng nhất là đảm bảo về vệ sinh dịch tễ và giấy chứng nhận quy trình sản xuất an toàn dịch tễ. Do đó, các thị trường muốn xuất khẩu vào Thái Lan phải giám sát kỹ về mặt sâu bệnh và phải có bảng phân tích rủi ro sâu bệnh và các chuyên gia Thái Lan sẽ trực tiếp đánh giá quy trình sản xuất, xử lý dịch bệnh. Ngoài ra, trái cây, rau củ trước khi xuất khẩu đều phải qua xử lý và tuân theo những yêu cầu khác về đóng gói, dán nhãn.
Trích bản tin số 06/ Bộ Công Thương


Tác giả bài viết: St. Ty Quyền
Từ khóa:

thái lan, nhập khẩu

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

TIN HOẠT ĐỘNG