Danh sách hội chợ triển lãm

Bản tin Xuất - Nhập khẩu

Thống kê

  • Đang truy cập: 20
  • Khách viếng thăm: 19
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 2216
  • Tháng hiện tại: 141768
  • Tổng lượt truy cập: 5301054

Qnitrade   Hồ sơ thị trường   CHÂU PHI và TRUNG ĐÔNG  

Iran

Đăng lúc: Thứ ba - 31/01/2012 15:47 - Người đăng bài viết: lequanghung

Iran

I. Khái quát


  1. Hệ thống chính trị :
· Tên quốc gia: Cộng hòa Hồi giáo Iran
· Thể chế chính trị: Cộng hòa Thần quyền
· Ngày quốc khánh: 1/4/1979
· Thủ đô: Tehran
· Đứng đầu nhà nước: Tổng thống: Mahmud AHMADI-NEJAD (từ 3/8/2005)
Chủ tịch quốc hội: Ali Larijani
Phó Tổng thống thứ nhất (ngang Thủ tướng): Dr.Paruiz Davody (từ 8/2005).
Ngoại trưởng: Manoucher Mottaki (từ 8/2005)
· Tôn giáo: Hồi giáo 98% (89% Shia, Sunni 9%) khác (bao gồm Zoroastrian, Do Thái, Thiên chúa giáo, và Bahai) 2%
· Ngôn ngữ: Tiếng Ba Tư (Persian – là ngôn ngữ chính thức).Ngoài ra, còn có tiếng Thổ, Kurd, A Rập.
2. Đặc điểm địa lý:


· Vị trí: Cộng hoà Hồi giáo Iran nằm ở Tây Nam Châu Á (Trung đông), phía bắc giáp Armenia, Azerbaijan, Turkmenistan và biển Caspian, phía đông giáp Afghanistan và Pakistan, phía nam giáp Vịnh Oman và Vịnh Ba tư và phía tây giáp Irắc và Thổ Nhĩ Kỳ.
· Diện tích: 1,648,195 km2
· Khí hậu: Mùa đông lạnh và ẩm, mùa hè nóng và khô. Nhiệt độ thấp nhất trong mùa đông ở phía Bắc là -37oC. Nhiệt độ cao nhất trong mùa hè ở phía Tây là 51oC.
· Tài nguyên: dầu mỏ, khí đốt tự nhiên, than đá, crôm, đồng, quặng sắt, than chì, chất măng gan, kẽm, sunfua lưu huỳnh.
  1. Con người:
· Dân số: 77,891,220 (7/ 2011 est.)
· Dân tộc: Ba Tư 51%, Azeri 24%, Gilaki và Mazandarani 8%, 7% Kurd, Ả rập 3%, Lur 2%, Baloch 2%, Turkmen 2%, khác 1%
· Cấu trúc tuổi:
0-14 tuổi: 24.1% (nam 9,608,342/nữ 9,128,427)
15-64 tuổi: 70.9% (nam 28,083,193/nữ 27,170,445)
65 tuổi trở lên: 5% (nam 1,844,967/nữ 2,055,846) (2011 est.)
· Tỉ lệ tăng dân số: 1.248% (2011 est.)
 
4. Lịch sử:
Người Iran (trước đây gọi là Ba tư) thuộc nhóm Ân - Âu, từ phương Đông đến vùng đất này vào Thiên niên kỷ thứ II trước Công nguyên và bắt đầu một nền văn minh nông nghiệp rất sớm. Năm 549 trước Công nguyên, họ lập nên Đế chế Ba tư và khoảng 10 năm sau đó chinh phục được Babylomia (khoảng năm 538 trước Công nguyên). Alexander Đại đế chiếm Ba tư vào năm 333 và sau đó người Ba tư giành lại độc lập vào thế kỷ thứ I trước Công nguyên.
Sau trận Qadisiya (năm 637), người A rập bắt đầu truyền bá Hồi giáo vào Ba tư. Nghệ thuật, văn hoá phát triển phồn thịnh từ thế kỷ IX đến thế kỷ XI khi độc lập chính trị được củng cố vững chắc ỏ Iran, trước khi đất nước này bị người Thổ Nhĩ Kỳ và người Mông Cổ thay nhau cai trị tới năm 1502.
Anh và Nga tranh giành ảnh hưởng mạnh mẽ ở Iran cho đến khi hai nước ký Hiệp định cùng tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập của nước này. Trước đó khá lâu, năm 1857, Anh đó cắt Afghanistan ra khỏi Iran.
Cuối chiến tranh Thế giới lần thứ I, tình hình ở Iran bị xáo trộn. Để lập lại trật tự, năm 1925, Anh đưa Reza Shah lên làm vua lập ra triều đại Pahlavi ở Iran.
Trong xu thế độc lập dân tộc phát triển mạnh sau chiến tranh thế giới lần thứ II, đầu năm 1951 một chính phủ tiến bộ được thành lập ở Iran do Mossadegh làm Thủ tướng. Năm 1953, Mỹ làm đảo chính lật đổ Mossadegh đưa Pahlavi trở lại cầm quyền. Tháng 3/1959, Iran và Mỹ ký Hiệp định phòng thủ chung.
Ngày 11/2/1979, phong trào Hồi giáo do Giáo chủ Ayatollah Ruhollah Khomeini lãnh đạo đã lật đổ chế độ quân chủ Pahlavi, thành lập chế độ Cộng hoà đầu tiên ở Iran và đổi tên nước thành nước Cộng hoà Hồi giáo Iran (1/4/1979).
  1. Chính trị:
5.1 Đối nội:
Hội đồng Tư vấn Hồi giáo (Quốc hội) là cơ quan quyền lực tối cao gồm 290 nghị sỹ. Tuy nhiên, theo Hiến pháp, lãnh tụ tinh thần là người có quyền hành cao nhất (cách chức Tổng thống, tuyên bố chiến tranh và hoà bình, bổ nhiệm Bộ chỉ huy tối cao lực lượng vũ trang...).
Đạo Hồi là quốc đạo. Giáo lý của đạo Hồi làm cơ sở cho mọi dường lối, chính sách. Trong thập niên 80, Iran thi hành đường lối cứng rắn nhằm củng cố Nhà nước Hồi giáo chính thống, mở rộng ảnh hưởng của cách mạng Hồi giáo ra khu vực. Từ giữa năm 1988, nhất là sau khi giáo chủ Khomeni qua đời (6/1989) và giáo chủ Seyed Ali Khamenei lên thay làm lãnh tụ tinh thần và Tổng thống Akbar Hashemi Rafsanjani lên cầm quyền, chiều hướng chính sách của Iran có cởi mở và ôn hoà hơn so với trước.
* Các đảng phái chính:
+ Đảng Cộng hoà Hồi giáo (IRP): thành lập năm 1978, đưa Cách mạng đi đến thành công năm 1979. Thắng cử 2 lần (1980, 1984). Tháng 6/1987 xin giải thể vỡ "nếu tồn tại sẽ gây bất đồng, bè phái".
+ Nelzaf-Azadi (Phong trào Giải phóng Iran): thành lập năm 1961. Đấu tranh cho nhân quyền theo tinh thần Hồi giáo là Đảng duy nhất được công nhận. Tổng bí thư: Tiến sỹ Mehdi Bazargan.
* Đảng đối lập:
+ Tudeh (Cộng sản): Thành lập năm 1941. Bị cấm hai lần (1949, 1983).
+ Mujahidin-Khalq: Từ 6/1987. Kháng chiến Hồi giáo, hoạt động mạnh từ bên ngoài.
5.2 Đối ngoại:
Iran có đường lối đối ngoại độc lập dân tộc, chống đế quốc và Sionite Israel, ưu tiên phát triển quan hệ với các nước Hồi giáo và các nước trong khu vực.
Iran là thành viên Liên Hợp Quốc, Phong trào Không liên kết, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) và Tổ chức Hội nghị Hồi giáo thế giới (OIC). Iran là thành viên sáng lập Tổ chức kinh tế khu vực Trung - Tây A (ECO). Trong những năm gần đây, Iran tích cực bỡnh thường hoá quan hệ với các nước Vùng Vịnh và các nước Arập khác.
Từ năm 1979 (cách mạng Hồi giáo thành công), Iran bị Mỹ bao vây và cấm vận về kinh tế. Trong những năm sau đó, Iran tiếp tục chịu nhiều sức ép của Mỹ và các nước EU vỡ cỏc nước này cho rằng Iran ủng hộ chủ nghĩa khủng bố và một số phong trào Hồi giáo cực đoan. Tuy vậy, hiện nay Mỹ cũng đó nới lỏng việc bao vây kinh tế Iran và cam kết sẽ xem xét để trả lại Iran số tài sản khoảng 10 tỷ USD bị phong toả từ năm 1979. Tuy nhiên, sau sự kiện ngày 11/9/2001, Mỹ đó liệt Iran vào trục liên minh ma quỷ có hỗ trợ hoạt động khủng bố (2 nước kia là Irắc và CHDCND Triều Tiên). Iran chủ trương phát triển năng lượng hạt nhân, thời gian qua đó thử nghiệm thành công phản ứng hạt nhân làm giàu uranium. Động thái này đó bị Mỹ và một số nước Phương Tây phản ứng quyết liệt và đưa vấn đề hạt nhân của Iran ra Liên Hiệp quốc. Hiện tại, vấn đề hạt nhân của Iran vẫn còn đang diễn ra căng thẳng và hết sức nhạy cảm trong quan hệ với một số nước. Liên quan đến vấn đề này, Mỹ chủ trương và vận động Liên hợp quốc cấm vận đối với Iran.
Hiện, Iran đang nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO.

II. Kinh tế


 

 
1. GDP theo PPP: $863.5 (2010)
 
· GDP/đầu người: $11,200 (2010 est.)
 
· Tốc độ tăng trưởng GDP: 3% (2010 est.)
 
 
2. Cơ cấu GDP:

 
 


 
 
Nông nghiệp, ngư nghiệp và chăn nuôi:
 
Ngành nông nghiệp có tầm quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế của Iran. Hầu hết đất đai canh tác mầu mỡ ở miền bắc, miền nam và miền tây. Từ giữa những năm 1980, Iran đó chú ý phát triển nông nghiệp bằng cách khuyến khích các hệ thống canh tác truyền thống, phục hồi kỹ thuật tưới tiêu truyền thống là các đường ống tưới nước ngầm dưới đất. Khoảng 40% đất nông nghiệp được tưới nước.
 
Nông sản chủ yếu hàng năm của Iran có lúa mỳ, lúa gạo, lúa mạch, cà chua, nho. Các sản phẩm quan trọng khác gồm bông, củ cải đường, mía đường, ngô, đậu hạt, thuốc lá, chè, hạt có dầu, hạt hồ trăn. Iran cũng nổi tiếng với các sản phẩm hoa quả như cam, chà là, chuối, táo, lê, đào và anh đào. Riêng lúa gạo được sản xuất chủ yếu ở tỉnh Mazandaran với sản lượng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của 22 triệu dân.
 
Iran đứng thứ 8 trong số những nước sản xuất bông. Sản lượng bông hiện đạt 2,2 tấn/ha. Diện tích trồng bông là 240.000 ha Trong số đó 1/3 là bông sợi, số còn lại là bông hạt.
 
Iran đứng thứ 3 trên thế giới về sản xuất nho khô, sau Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ. Sản lượng nho hiện đạt 6,5 triệu tấn/năm.
 
Iran trồng khoảng 50.000 tấn chè/năm (chưa kể nhập khẩu với số lượng tương đương) và chế biến khoảng 100.000 tấn chè/năm.
 
Ngành đánh bắt cá đóng vai trũ quan trọng trong nền kinh tế của Iran. Các sản phẩm thuỷ sản của Iran gồm cú: cỏ hồi, cỏ chộp, cỏ tầm, cỏ hồi hồng, cỏ chích, tăm. Trứng cỏ muối (cỏ hồi hồng) của Iran được coi là đặc sản trên thế giới.
 

 
Công nghiệp, năng lượng và khai mỏ:
 
Các ngành công nghiệp chính của Iran gồm: Hoá dầu, chế tạo ôtô, thiết bị điện tử, thực phẩm chế biến, đồ uống và thuốc lá, dệt-may-da (đặc biệt là thảm, len, cotton và vải silk), gỗ và sợi xellulo, giấy và carton, hoá chất, sản phẩm công nghiệp á kim, nguyên vật liệu xây dựng, khai thác luyện và chế biến đồng, thép và nhôm. Mỗi năm I ran sản xuất khoảng 5,5 triệu tấn sữa bột.
 
Ngành công nghiệp dệt thảm là 1 trong những ngành nghề truyền thống và quan trọng của Iran. Nghề dệt thảm của Iran nổi tiếng thế giới, có tính nghệ thuật và trị giá cao.
 
Hiện nay, Iran sản xuất 14 triệu tấn sản phẩm hoá dầu các loại/năm (trong đó xuất khẩu 4,5 triệu tấn đem lại khoảng 800 triệu USD).
 
Hơn 80% sản lượng điện được sản xuất ở các nhà máy nhiệt điện chạy bằng các sản phẩm dầu mỏ, khí gas tự nhiên hoặc bằng than. Số còn lại được sản xuất từ các nhà máy thủy điện.
 
Các khoáng sản chính của Iran gồm có nhôm, thạch cao, thiếc, than đá, quặng sắt, đồng, uranium, chì, crôm, muối, bô xít. Nhu cầu về nhôm của Iran là 170.000 tấn trong khi chỉ sản xuất được 100.000 tấn. Iran đứng thứ 2 thế giới về trữ lượng thạch cao. Sản xuất thạch cao đạt 9 triệu tấn/năm đứng 3 thế giới sau Mỹ và Trung quốc (sản xuất tương ứng đạt 19,4 triệu tấn/năm và 9,2 triệu tấn/năm)
 

 
Dầu mỏ và khí gas tự nhiên:
 
Iran nổi tiếng về sản xuất dầu mỏ. Trữ lượng dầu tập trung ở biển Caspian và Vịnh Péc xích. Số tiền thu được từ việc bán dầu đó giảm kể từ khi bị Mỹ cấm vận năm 1995. Các mỏ dầu chủ yếu nằm ở nằm ở phía đầu của Vịnh Ba tư ở phía Tây - Nam. Mỏ Azadegan ước tính có trữ lượng khoảng 26 tỷ thùng dầu hiện bắt đầu được đưa vào khai thác. Ngành công nghiệp dầu lửa được quốc hữu hoá từ năm 1951 và việc sản xuất dầu lửa do Bộ Dầu mỏ quốc gia kiểm soát.
 
Trữ lượng dầu hiện nay khoảng 95 tỷ thùng), đứng thứ 4 trên thế giới. Sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ của I ran đứng thứ 2 trong OPEC. Từ đầu thế kỷ 20 đến nay, Iran đó khai thác được 45 tỷ thùng dầu. Sản lượng cao nhất, năm 1976, đạt 334 triệu tấn dầu. Giữa những năm 1990, sản lượng đạt khoảng 3,6 triệu thùng dầu/ngày. Sản lượng dầu năm 1994 đạt 3,9 triệu thùng/ngày. Hiện nay sản lượng khai thác đạt 3,8 triệu thùng/ngày (khoảng 200 triệu tấn/năm), trong đó xuất khẩu 2,6 triệu thùng. Iran là thành viên của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) và là nước sản xuất dầu lớn thứ 2.
 
Trữ lượng khí đốt của Iran là 26.000 tỷ m3 (trong đó 12.000 tỷ m3 thuộc mỏ Pars), đứng thứ 2 và chiếm 12,6% trữ lượng thế giới sau Nga. Mỗi năm Iran xuất khẩu khoảng 20% sản lượng khí gas khai thác được sang các nước Trung A. Sản lượng khai thác giữa những năm 1990 đạt từ 54,9 tỷ m3/năm đến 57,5 tỷ m3/năm. Sản lượng hiện nay đạt 80 tỷ m3/ngày. Là nước đang phát triển, lại bị Mỹ bao vây kinh tế nên công nghệ lọc dầu của I ran cũ kỹ và lạc hậu.
 

 
3. Đặc điểm kinh tế chung:
 
Iran là nước có tiềm năng kinh tế lớn. Kinh tế Iran gồm 3 khu vực: nhà nước, hợp tác và tư nhân, trong đó nhà nước kiểm soát những ngành kinh tế quan trọng. Sau cuộc Cách mạng Hồi giáo (tháng 2/1979), Iran bị Mỹ bao vây cấm vận và sau đó bị lôi kéo vào 8 năm chiến tranh với Irắc nên nhìn chung kinh tế còn nhiều khú khăn.
 
Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ 3 (2000-2005) của Tổng thống Khatami tiếp tục được tăng cường với các mục tiêu tự do hoá, đa dạng hoá và tư nhân hoá các hoạt động kinh tế cùng với việc duy trì một tỷ giá ngoại hối được thả nổi. Nền kinh tế Iran vẫn chủ yếu dựa vào dầu mỏ, các sản phẩm dầu mỏ và nhập khẩu hàng hoá. Khoản thu nhập do ngành công nghiệp dầu lửa tạo ra có ảnh hưởng to lớn đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
 
Cơ sở hạ tầng đó được cải thiện đáng kể, các khu vực kinh tế được quy hoạch tốt. Hiện nay Iran đang từng bước chuyển sang kinh tế thị trường, tiến hành tự do hoá nền kinh tế, giảm dần bao cấp và mở cửa với phương Tây, trong đó các đối tác buôn bán chủ yếu là Nhật bản, Các tiểu vương quốc Arập thống nhất, Đức, Bỉ, Italia, Anh và Hà lan. GDP trong 3 năm 1993-1995 tăng trung bình 8%/năm. Tổng sản phẩm quốc gia (GDP) năm 2005 khoảng 561.6 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người khoảng 2.770 USD/đầu người).
 
Hoạt động xuất nhập khẩu trong năm qua, trừ xuất khẩu dầu thô và các sản phẩm từ dầu khí, vẫn khó khăn và trì trệ do chính sách vẫn còn gò bó, mù mờ và đóng cửa mặc dù hiện đang có dấu hiệu cải cách. Gần đây chính sách xuất khẩu đó được cởi mở hơn: tự do xuất khẩu, miễn thuế xuất khẩu, xóa bỏ chế độ ký quỹ xuất khẩu... Quyền sử dụng ngoại tệ được mở rộng: được dùng ngoại tệ có được do xuất khẩu để nhập khẩu khẩu một số mặt hàng tiêu dùng sau khi được phép của Bộ Thương mại. Xoá bỏ tỷ giá xuất khẩu. Đồng USD được tự do giao dịch để mua bán “quyền sử dụng ngoại tệ” theo giá thoả thuận trên thị trường chứng khoán tiền tệ Tehran. Chính sách nhập khẩu vẫn cấm đoán là chủ yếu nhằm mục đích bảo hộ sản xuất trong nước và khuyến khích sử dụng hàng nội địa. Các mặt hàng nhu yếu phẩm vẫn được Nhà nước quản lý nhập khẩu trực tiếp thông qua Tổng Công ty Government Trading Company.
 

 
4. Tỷ lệ lạm phát: 11.8% (2010 est.)
 
 
5. Nợ nước ngoài: $12.84
 

 
6. Tiền tệ: Rial
 
1 USD ~ 10,308.2 (2010), 9,900 (2009), 9,142.8 (2008), 9,407.5 (2007)
 

 
7. Thu chi ngân sách: Thu: $105.7 tỷ
 
Chi: $98.83 tỷ (2010 est.)
 

 
8. Kim ngạch XNK:
 
Xuất khẩu: $78.69 tỷ
 
· Các mặt hàng xuất khẩu: dầu mỏ (80%), hóa chất và các sản phẩm hóa dầu, hoa quả và các loại hạt, thảm,...
 
Các đối tác xuất khẩu chính: Trung Quốc 16.58%, Nhật Bản 11.9%, Ấn Độ 10.54%, Hàn Quốc 7.54%, Thổ Nhĩ Kỳ 4.36% (2009)
 

 
Nhập khẩu: $58.197 tỷ
 
· Các mặt hàng nhập khẩu: bán thành phẩm và các nguyên vật liệu công nghiệp thô, thực phẩm và các hàng hóa tiêu dùng, dịch vụ kỹ thuật…
 
· Các nước nhập khẩu chính: UAE 15.14%, Trung Quốc 13.48%, Đức 9.66%, Hàn Quốc 7.16%, Ý 5.27%, Nga 4.81%, Ấn Độ 4.12% (2009)
 
 
9. Ngoại thương:
 
Nguồn thu nhập chính là dầu lửa (ngành này được quốc hữu hoá năm 1951). Khoảng 90% khoản thu xuất khẩu chủ yếu là do bán dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ. Iran xuất khẩu mỗi năm khoảng 2/3 số dầu khai thác được, thu về 15 tỷ USD đến 20 tỷ USD.
 
Ngoài dầu khí, Iran còn xuất khẩu thảm, hoa quả, da, giầy, trứng cỏ, hàng dệt may, hóa chất, sắt, thép và quặng kim loại. Thảm Iran thuộc loại nổi tiếng bậc nhất trên thế giới. Sản xuất thảm của Iran sử dụng 90% len và 99% tơ nguyên liệu trong nước. Xuất khẩu mặt hàng thảm chiếm 25% trị giá hàng xuất khẩu phi dầu Iran và chiếm 20% xuất khẩu thảm của thế giới (trong đầu những năm 1990 chiếm 50%) vì phải cạnh tranh với Trung quốc, Ân độ và Pakistan. Trung bình, xuất khẩu các mặt hàng phi dầu mỏ của Iran đạt khoảng 3 tỷ USD/năm.
 
Iran là nước xuất khẩu nhựa đường lớn với giá rẻ vì công nghệ lọc dầu lạc hậu nên thành phẩm nhựa đường nhiều. Các khách hàng lớn mua nhựa đường của Iran là Hàn quốc, Trung quốc, Hồngkông và Singapore.
 
Hầu hết hàng nhập khẩu của Iran bao gồm máy móc, thiết bị vận tải, hoá chất, sắt thép, hàng dệt, các khoáng sản, lương thực và thực phẩm (hiện tại Iran có nhu cầu nhập khoảng 1 triệu tấn gạo mỗi năm), súc vật sống, chè, cà phê, cao su, giấy, nguyên liệu thô, hàng may mặc. Mỗi năm Iran nhập khẩu khoảng gần 1 triệu tấn gạo từ Ân độ, Thái lan, Pakistan, Việt nam. Iran thường nhập khẩu lúa mỳ từ Argentina, Pháp, Canada và Kazakhstan và nhập khẩu khoảng 20.000 tấn chè/năm. Iran cũng thường nhập khẩu công nghệ, kỹ thuật của Tây Âu, Đức, Italia, Ao, Nhật bản và xuất khẩu dầu thô cho họ. Ngoài những mặt hàng thiết yếu như trên, về nguyên tắc Iran không khuyến khích nhập các mặt hàng khác (Nhà nước thường lờ đi cho các công ty tư nhân nhập khẩu lậu những mặt hàng không thiết yếu và thu thuế nếu bắt được. Các công ty tư nhân mở L/C tại ngân hàng ở Dubai và nhập hàng về đó rồi tái xuất hoặc tìm cách đưa hàng lậu vào trong nước hoặc đưa vào các khu mậu dịch tự do như đảo Kíh, đảo Queshem, Chabarrhan…).
 
Các đối tác buôn bán hàng đầu của Iran là Pháp, Nhật bản, UAE, Đức, Bỉ, Italia, Anh, Hà Lan, Trung Quốc và Hàn quốc. Iran chú trọng phát triển thị trường khu vực và thị trường cộng đồng các nước Hồi giáo và Trung Á.
 
Hiện nay, Iran đang cố mở rộng thị trường Châu Phi để xuất khẩu máy móc, đồng thời củng cố thị trường trong khu vực để xuất khẩu nông sản và rau quả. Bên cạnh đó, Iran cũng cải thiện quan hệ với các nước Trung Á để xuất khẩu kỹ thuật và mở rộng sang thị trường Đông Nam Á qua việc tham dự các hội chợ, triển lãm để giới thiệu sản phẩm, hàng hóa của mình.
 

 
10. Thông tin về viễn thông, giao thông, hệ thống ngân hàng, thuế khoá :
 
Iran có khoảng 151.488 km đường bộ (trong đó 35% là đường được trải nhựa), xấp xỉ 5.093 km đường sắt đang hoạt động.
 
Các cảng chính của Iran trên biển Caspia là: Bandar-e Anzali và Bandar-e Torkeman. Các cảng biển trên Vịnh Ba tư gồm: Khorramshahr, Bandar-Khomeini và Bandar-e ' Abbas cũng như các cảng dầu ở trên đảo Kharg.
 
Hãng hàng không Iran, thuộc nhà nước được thành lập năm 1962, hoạt động trên các chuyến bay nội địa và quốc tế. Hãng hàng không Iran Asseman hoạt động trên các tuyến nội địa. Các sân bay chính nằm ở Tehran và Abanda. Tháng 3 năm 2001, sân bay mới Imam Khomeini được khánh thành ở cách Thủ đô Tehran 30 km.
 
Các dịch vụ bưu chính, điện tín và điện thoại cũng như phát thanh radio và truyền hình do nhà nước kiểm soát. Năm 2005, có khoảng 19 triệu máy điện thoại. Số lượt người truy cập Internet là 7,5 triệu. Việc cung cấp các chảo ăng ten được lắp đặt một cách thận trọng mặc dù lệnh cấm chưa có hiệu lực chặt chẽ. Gần như tất cả các báo hàng ngày và hầu hết các báo tuần được xuất bản ở Tehran. Các tờ báo có số lượng phát hành lớn gồm: Kayhan và Ettelaat, cả hai báo này được xuất bản ở Tehran. Có hai tờ báo tiếng Anh hàng ngày, tờ Tehran Time và Kayhan International.
 
· Điện thoại: 25.804 triệu đường dây
 
· Điện thoại di động: 52.555 triệu
 
· Đánh giá chung: hiện đang được hiện đại hóa và mở rộng với mục tiêu không chỉ nâng cao hiệu quả và tăng khối lượng của dịch vụ đô thị mà còn mang lại dịch vụ điện thoại tới vài nghìn làng, không hiện kết nối
 
· Giao thông: Sân bay: 319
 
Sân bay có đường băng rải nhựa: 133
 
Sân bay có đường băng không rải nhựa: 186
Cảng biển: Assaluyeh, Bandar Abbas, Bandar-e-Eman Khomeyni

III. Quan hệ Việt Nam - Iran


  1. Quan hệ chính trị - ngoại giao:
Việt Nam và Iran thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 4/8/1973. Ngày 13/2/1979, hai ngày sau khi Cách mạng Hồi giáo thắng lợi, Thủ tướng ta gửi điện mừng và công nhận nước Cộng hoà Hồi giáo Iran. Ngày 22/1/1991, Iran mở Sứ quán tại Hà Nội.
Quan hệ Việt Nam - Iran phát triển tốt đẹp. Hai bên đó trao đổi nhiều đoàn, đặc biệt Chủ tịch Lê Đức Anh đó đi thăm Iran (tháng 5/1994), Tổng thống Iran A.H. Rafsanjani cũng đó đi thăm Việt Nam (tháng 10/1995), Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh đi thăm hữu nghị Iran (tháng 7/1999), Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đi thăm Iran (tháng 6/2000) và hai Bộ trưởng ngoại giao cũng đó trao đổi các chuyến viếng thăm Iran (5/1993) và Việt Nam (3/1995). Hai bên đó ký "Thoả thuận chung về hợp tác kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật" (1993), Hiệp định về thương mại (trong đó có điều khoản MFN) và lập Uỷ ban hỗn hợp (1994), Hiệp định hợp tác văn hoá (năm 1999), Hiệp định Vận tải biển (năm 2002), Biên bản ghi nhớ mở rộng và đa dạng hóa hợp tác kinh tế, thương mại 2 nước năm 2007.
Các đoàn Việt Nam thăm Iran:
1. Tháng 6/92, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBKH nhà nước Đặng Hữu thăm và dự Hội nghị Bộ trưởng Công nghiệp và Công nghệ do ESCAP và UNIDO tổ chức tại Tehran.
2. Tháng 4/93, Bộ trưởng Thương binh - Lao động - Xã hội Trần Đình Hoan thăm và dự Hội nghị ESCAP tổ chức tại Tehran.
3. Tháng 5/93, Bộ trưởng Ngoại giao ta đó thăm Iran và ký "Bản thoả thuận chung về hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hoá" giữa hai nước.
4. Tháng 4/94, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên thăm Iran tiến hành trao đổi thường kỳ giữa hai nước.
5. Từ 30/4 - 2/5/94, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đó thăm hữu nghị chính thức Iran. Ba Hiệp định: Thương mại, Lập UBHH, Miễn thị thực cho Hộ chiếu Ngoại giao đó được ký kết. Thoả thuận về việc Việt nam bán 30 vạn tấn gạo năm 1994.
6. Từ 9 -11/4/97, Đoàn Chính phủ do Bộ trưởng Nguyễn Công Tạn, Chủ tịch Phân ban Việt nam trong UBLCP dẫn đầu sang dự khoá họp thứ 2 của UBLCP hai nước tại Tehran.
7. Tháng 7/1999, Đoàn Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh đi thăm hữu nghị Iran
8. Tháng 6/2000, Đoàn Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đi thăm Iran.
9. Tháng 12/2006, Đoàn Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng thăm Iran.
10. Tháng 12 năm 2007: Bộ trưởng bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát tham dự kỳ họp thứ 5 Ủy ban Liên CP về kinh tế, thương mại giữa VN và Iran
11. Thứ trưởng Ngoại giao Đoàn Xuân Hưng thăm Iran (4/2009)
Các đoàn Iran thăm Việt Nam
1. Từ 31/3 - 2/4/95, Đoàn Bộ trưởng Ngoại giao Iran A. A Velayati thăm Việt Nam.
2. Từ 4 -6/9/95, Đoàn Thứ trưởng Ngoại giao Iran Aladin Boroujerdi vào tiền trạm cho Tổng thống A.H. Rafsanjani thăm Việt Nam.
3. Từ 3-7/10/1995, Đoàn Chính phủ Iran do Bộ trưởng Nông nghiệp Isa Kalantari, Chủ tịch phân ban Iran trong UBHH sang dự kỳ họp lần thứ I UBHH hai nước tại Hà nội.
4. Từ 5 -8/10/1995, Đoàn Tổng thống Iran A.H. Rafsanjani thăm Việt nam, nhân dịp này hai bên đó ký Hiệp định hợp tác văn hoá và Biên bản kỳ họp lần thứ I UBHH hai nước.
5. Tháng 12/1998, Chủ tịch Quốc hội Iran Akbar Nateq thăm Việt Nam
6. Tháng 1/2005, Bộ trưởng Thương mại Iran thăm và họp UBHH khoá IV tại Việt Nam
7. Thứ trưởng Ngoại giao Iran thăm VN(12/2007)
8. Bộ trưởng Nông nghiệp Iran thăm Việt Nam (1/2008)
  1. Quan hệ Thương mại:
Phía Iran muốn tăng cường hợp tác với ta trong các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, dầu khí, sản xuất xi măng, phân bón, trồng và chế biến cao su, chè và đẩy mạnh trao đổi thương mại với ta. Iran có nhu cầu nhập khẩu với số lượng lớn gạo loại 5% (theo tiêu chuẩn Iran), chè, cà phê, hạt tiêu, cao su loại SVR 20, quần áo, giầy dép, phụ tùng xe máy và xe đạp của ta. Việt Nam có thể nhập khẩu từ Iran nhựa đường, đồng nguyên liệu, các sản phẩm hoá chất với giá cả cạnh tranh và chất lượng hợp lý.
 
Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Iran 2001-7/2011
Đơn vị: Triệu USD
Năm Xuất khẩu Nhập khẩu Tổng
2001 0.4 6.0 6.5
2002 3.5 8.1 11.6
2003 14.5 22.1 36.6
2004 19.8 40.9 60.7
2005 81.5 24.3 105.8
2006 16.4 55.3 71.7
2007 30.21 39.10 69.31
2008 79.03 92.45 171.48
2009 27.68 84.84 112.52
2010 44.28 100.42 144.7
7/2011 61,852 42,201 84.402
(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)
 
KIM NGẠCH XUẤT KHẨU VIỆT NAM- IRAN NĂM 7/2011
Tên hàng ĐVT Lượng Trị giá USD
Bông các loại   76 254,079
Cao su   309 1,436,118
Chất dẻo nguyên liệu   5,899 8,659,064
Hàng rau quả   0 27,766
Hóa chất   0 120,450
Hàng húa khỏc   0 3,914,292
Khí đốt hoá lỏng   19,390 17,393,188
Kim loại thường khác   2,913 7,877,025
Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng   0 203,350
Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện   0 17
Phân Urê
 
  20,570 8,383,293
Sản phẩm hóa chất   0 7,549,734
Sản phẩm từ dầu mỏ khác   0 5,492,020
Sản phẩm từ sắt thép   0 420
Thức ăn gia súc và nguyên liệu   0 541,200
Tổng     61,852,014
 
(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)
 
KIM NGẠCH NHẬP KHẨU VIỆT NAM- IRAN NĂM 7/2011
Tên hàng ĐVT Lượng Trị giá USD
Bánh, kẹo và Sản phẩm từ ngũ cốc   0 205,681
Cao su   198 846,350
Chè   3,201 6,326,760
Giày dép các loại   0 53,570
Hàng rau quả   0 80,763
Hàng thủy sản   0 8,468,823
Hạt điều   48 414,600
Hàng húa khỏc   50 11,294,579
Linh kiện và phụ tùng xe máy   0 368,153
Linh kiện phụ tùng ôtô khác
 
  0 299,559
Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng   0 1,572,613
Máy vi tính, Sản phẩm điện tử & linh kiện   0 21,373
Phương tiện vận tải khác và phụ tùng
 
  0 31,179
Sản phẩm dệt, may   0 87,072
Sản phẩm gốm, sứ   0 149,478
Sản phẩm hóa chất   0 714,006
Sản phẩm mây, tre, cói và thảm   0 12,153
Sản phẩm từ  sắn   513 315,039
Sản phẩm từ cao su   0 900,033
Sản phẩm từ chất dẻo   0 1,007,027
Sản phẩm từ gỗ   0 49,926
Sản phẩm từ giấy   0 3,651
Sản phẩm từ sắt thép   0 5
Sắt thép loại khác   2,731 7,563,660
Thủy tinh và các sản phẩm bằng thuỷ tinh   0 348,416
Túi xách, ví,vali, mũ và ô dù   0 74,288
Vải các loại   0 135,956
Xơ, sợi dệt các loại   271 857,067
Tổng     42,201,780
 
(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)
 
Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Iran gồm: gạo, sữa và sản phẩm sữa, sản phẩm hoá chất, sợi các loại, gỗ và sản phẩm gỗ… Trong những năm 1990s, mỗi năm ta xuất hàng trăm ngàn tấn gạo sang Iran. Sau đó, do vướng mắc trong thực hiện hợp đồng gạo giữa TCT Vinafood2 và tranh chấp tiền phạt tầu giữa Công ty Tổng hợp 2 của ta với phía Iran nên bạn tạm ngừng nhập khẩu gạo của ta. Đến nay, các bên đó giải quyết xong cơ bản những vướng mắc và tranh chấp này. Vừa qua, phía Iran đó bắt đầu nhập khẩu trở lại gạo của ta, cụ thể năm 2005 Bạn nhập 280.000 tấn gạo, năm 2006 ta không xuất được gạo vào thị trường này.
Việt Nam nhập khẩu từ Iran một số mặt hàng như nhựa đường các loại, bông các loại, cao su, lưu huỳnh dạng rời, chất dẻo nguyên liệu, kim loại thường, nguyên phụ liệu dệt may da giày…
Iran đó cử nhiều đoàn vào làm việc với các ngành của ta. Phía ta cũng cử một số đoàn sang làm việc với bạn. Tuy vậy, ngoài việc hàng năm Iran nhập gạo của ta, hợp tác giữa 2 nước trong các lĩnh vực khác còn rất hạn chế, nguyên nhân chính là do 2 bên chưa thống nhất được về phương thức thanh toán và giá cả, chưa hiểu và quen với cung cách làm ăn của nhau; các đối tác của Iran chưa tạo được lòng tin với các đối tác Việt Nam.

IV. Quan hệ hợp tác với VCCI


Tháng 12/2009, nhân kỳ họp lần thứ 6 UB hỗn hợp kinh tế, thương mại Việt Nam-Iran tại Hà Nội, VCCI đã ký thoả thuận hợp tác với Phòng Thương mại, Công nghiệp và Mỏ Iran.
Tháng 5/2011, Trợ lý Tổng thống Iran sang thăm hữu nghị Việt Nam và có buổi làm việc với Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
 

V. Thông tin cần thiết


1. Đại sứ quán Việt Nam tại Iran:
Địa chỉ:Vali-e-Ars Ave. Peysian Str., M.Ardebili, Zaferanieh, East Ordibehesht, No.6 
Tehran - Iran.
Tel.:+98.21.22411670
Fax: +98.21.22416045
E-mail: vnemb.ir@mofa.gov.vn
Website: http://www.vietnamembassy-iran.org/
2. Đại sứ quán Iran tại Việt Nam:
Địa chỉ: 54 Trần Phú – Ba Đình –Hà nội
Tel: +84.04.38232068
Fax: +84.04.38232120
Email: iriemb@fpt.vn

Những tin cũ hơn

 

TIN HOẠT ĐỘNG