Danh sách hội chợ triển lãm

Bản tin Xuất - Nhập khẩu

Thống kê

  • Đang truy cập: 11
  • Hôm nay: 445
  • Tháng hiện tại: 46644
  • Tổng lượt truy cập: 8683322

Quảng cáo










Hỗ Trợ Trực Tuyến

Hội chợ - Triển lãm
033 3626 720
hoichotrienlam@qnitrde.gov.vn
Đào tạo - Tập huấn
033 2476 066
daotaotaphuan@qnitrde.gov.vn
Hỗ trợ doanh nghiệp
033 3626 728
hotrodoanhnghiep@qnitrde.gov.vn
Thương mại điện tử
033 3626 728
thuongmaidientu@qnitrde.gov.vn
qnitrade_tmdt

Qnitrade   Hội nhập quốc tế  

Quảng Ninh – Tiềm năng và cơ hội đầu tư

Đăng lúc: Thứ bảy - 11/08/2012 14:39 - Người đăng bài viết: Dương Văn Hải
Đối với Quảng Ninh, việc làm thế nào để phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của mình nhằm huy động các nguồn lực đầu tư, phục vụ có hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế trong bối cảnh nền kinh tế thế giới, khu vực và trong nước còn nhiều khó khăn đang là nhiệm vụ trọng tâm.
 


Bến tàu du lịch Tuần Châu


Thế mạnh và tiềm năng
Quảng Ninh nằm ở địa đầu vùng Đông Bắc Việt Nam, hội tụ đầy đủ các yếu tố đặc thù về điều kiện vị trí, địa hình, tự nhiên, xã hội, kinh tế, con người Việt Nam: có rừng vàng, biển bạc, sông núi, nước non, có đường biên giới đất liền với Trung Quốc và có đường biển thông ra thế giới. Quảng Ninh có thể kết nối với Hải Phòng để phát triển thành cụm cảng quốc tế phía Bắc, kết nối với Hà Nội và các tỉnh khác trong vùng thành trung tâm trung chuyển hàng hóa xuất khẩu của Miền Bắc ra các thị trường quốc tế rộng lớn, nhất là với khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á. Chính vì vậy, Nghị quyết số 54-NQ/TW ngày 14/9/2005 về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng Sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã xác định: "Hình thành các trung tâm kinh tế lớn tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và xây dựng khu kinh tế tổng hợp Vân Đồn (Quảng Ninh)”.
Không chỉ có vị thế nổi bật mang tầm quốc tế, với trên 500 di tích lịch sử danh lam thắng cảnh được xếp hạng, đặc biệt là Vịnh Hạ Long – Di sản thiên nhiên, kỳ quan thiên nhiên của thế giới; danh thắng Yên Tử - trung tâm Phật giáo của Việt Nam... Quảng Ninh còn có nhiều điều kiện để phát triển các loại hình du lịch (biển đảo, sinh thái, văn hóa lịch sử, tâm linh...) và các ngành công nghiệp giải trí, công nghiệp văn hóa ở Quảng Ninh (được coi là ngành công nghiệp mới nhất nhằm quảng bá văn hóa dân tộc, hình ảnh quốc gia đến với bè bạn thế giới). Ở trong lòng đất, Quảng Ninh được thiên nhiên ưu ái ban tặng một kho báu tài nguyên khoáng sản giàu có, dồi dào nhất là than đá, đá vôi, đất sét. Đây là điều kiện, là cơ hội tốt để phát triển một trung tâm khai khoáng, trung tâm nhiệt điện, vật liệu xây dựng của cả nước. Hiện nay đã có những thương hiệu được thế giới biết đến như Than antraxit, gạch ngói Giếng Đáy, ngói Hạ Long, gốm Viglacera - Hạ Long; sứ nặng lửa Đông Triều...

Và điều quan trọng nhất cũng là thế mạnh không bao giờ có thể khai thác hết được đó là nguồn lực con người. Quảng Ninh đã là nơi hội tụ, giao thoa, sự thống nhất trong đa dạng của nền văn minh sông Hồng từ hàng ngàn đời nay với 22 dân tộc anh em đang sinh sống. Đến thời đại Hồ Chí Minh, Quảng Ninh lại có thêm truyền thống cách mạng vẻ vang của giai cấp công nhân vùng Mỏ với tinh thần kỷ luật và đồng tâm. Yếu tố này tạo cho Quảng Ninh khả năng tập hợp, đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng để giải quyết được những vấn đề đột phá; như lời Bác dạy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”.

Những tiềm năng và thế mạnh đó là cơ sở để Quảng Ninh thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và phát triển bền vững theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI và Kết luận của Hội nghị TW3 (khóa XI).

Than - Nguồn tài nguyên dồi dào mà thiên nhiên ban tặng cho Quảng Ninh


Thu hút đầu tư theo hướng phát triển vững bền
Định hướng phát triển kinh tế của Quảng Ninh trong những năm tới là phát triển kinh tế xanh gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa chủ yếu vào yếu tố phát triển chưa bền vững (tài nguyên hữu hạn: than, đất; nhân công rẻ) sang phát triển bền vững (dựa vào vị trí địa chính trị, tri thức, khoa học công nghệ, tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu, cảnh quan, văn hóa, truyền thống, con người...); từ phát triển theo bề rộng (vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên) sang phát triển theo chiều sâu (với đặc điểm của nền kinh tế xanh, trung tâm là Di sản - Kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long) một cách hài hòa và hợp lý (những gì đang có vẫn phải phát huy nhưng theo hướng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường bền vững).
Định hướng không gian kinh tế - xã hội của tỉnh sẽ phát triển theo hướng một trục hai cánh. Trục chính là Hạ Long (chuyển đổi phương thức phát triển) vì Hạ Long đã là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế - xã hội của Quảng Ninh. Tuy nhiên, Hạ Long sẽ phải chuyển đổi phương thức phát triển ở đẳng cấp cao hơn trong phát triển xanh theo hướng là thành phố đa năng của vùng, thành phố du lịch, cảng biển quốc tế văn minh, hiện đại; lấy phát triển công nghiệp giải trí, công nghiệp văn hóa làm trọng tâm và đột phá. Cánh phía Tây (bao gồm Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên, Hoành Bồ, Ba Chẽ) phát triển công nghiệp ở tầm cao mới là chuỗi công nghiệp không khói với sự hỗ trợ của phát triển kinh tế xanh do ở đây có nền tảng hạ tầng và môi trường công nghiệp hỗ trợ từ Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang. Cánh phía Đông (bao gồm Cẩm Phả, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà, Vân Đồn, Móng Cái, Cô Tô, Bình Liêu) sẽ bao gồm chuỗi đô thị vệ tinh sinh thái và dịch vụ cao cấp hiện đại để phát triển dịch vụ biên mậu, du lịch với hai động lực là hai khu kinh tế đặc biệt Móng Cái và Vân Đồn do ở đây có môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời, có hạ tầng thương mại quốc tế thuận lợi; lại là cửa ngõ giao thương trung chuyển hàng hóa giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á.
Để phát triển kinh tế xanh, một trong những giải pháp quan trọng là đẩy mạnh thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển trên quan điểm lấy nguồn lực bên trong là cơ bản chiến lược, lâu dài; nguồn lực bên ngoài là quan trọng và đột phá, với trọng tâm chính cần thu hút là:

Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại (bao gồm các cấu thành về hạ tầng giao thông; hạ tầng điện lưới quốc gia; hạ tầng thủy lợi và ứng phó biến đổi khí hậu; hạ tầng đô thị; hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp; hạ tầng thương mại; hạ tầng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin, giáo dục- đào tạo, y tế; hạ tầng văn hóa thể thao du lịch) theo định hướng phát triển kinh tế xanh và không gian phát triển kinh tế - xã hội 1 trục 2 cánh.

Huy động mọi nguồn lực về tài chính, khoa học công nghệ, chất xám... khắc phục ô nhiễm môi trường đối với các thành phố: Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí, nhất là các bãi đổ thải từ khai thác than, nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, chất thải rắn, bụi, tiếng ồn, đặc biệt trong khai thác than và trong sinh hoạt.

Huy động nguồn lực đầu tư phát triển:  Các ngành dịch vụ, tập trung phục vụ du lịch như dịch vụ văn hóa, ẩm thực, mua sắm, thể dục thể thao, trung tâm tổ chức sự kiện quốc gia, quốc tế; Phục vụ thương mại biên giới và thương mại đầu mối; Hình thành và phát triển các loại hình dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, hàng hải, hàng không, y tế, giáo dục, khoa học và chuyển giao công nghệ. Phát triển các trung tâm dịch vụ hậu cần cảng biển và nghề cá. Đầu tư phát triển và tiến tới hình thành ngành công nghiệp giải trí, công nghiệp văn hóa, trọng tâm vào các lĩnh vực: công nghiệp truyền thông, nghệ thuật biểu diễn, công nghiệp phim ảnh và nghệ thuật thị giác, công nghiệp thời trang và trung tâm tổ chức hội nghị, hội thảo và các sự kiện văn hóa thể thao (quốc gia, quốc tế);  Về công nghiệp: Thu hút đầu tư đổi mới công nghệ trong khai thác than, nhiệt điện, đóng tàu, vật liệu xây dựng theo hướng “xanh hóa”, hợp lý, bền vững. Đầu tư phát triển công nghiệp địa phương, trọng tâm là công nghiệp sạch, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến, công nghiệp công nghệ cao; Về nông nghiệp: Trọng tâm đầu tư phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao, gắn với nuôi, trồng, chế biến các sản phẩm từ nông - lâm - thủy sản phục vụ du lịch và xuất khẩu. 

Phát huy các nguồn lực

Dự kiến 10 năm (2011-2020), tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội của Quảng Ninh cần hàng chục tỷ USD, trong đó huy động trong nước chiếm khoảng 45%, vốn nước ngoài 55%. Trong số này, với chủ trương cắt giảm chi tiêu công theo tinh thần Kết luận Hội nghị TW3 (khóa XI) thì nguồn lực nhà nước chỉ chiếm hơn 5% (đã bao gồm cả trái phiếu chính phủ), còn nguồn vốn ODA và các nguồn vốn phi chính phủ khác trong bối cảnh kinh tế thế giới khó khăn và chính sách “thắt lưng buộc bụng” của các quốc gia phát triển thì tối đa cũng chỉ khoảng 3%. Do vậy, chủ yếu dồn vào các nguồn lực khác trong nước (khoảng 40%) và nguồn lực thu hút từ các nhà đầu tư nước ngoài (khoảng 52%).

Để có được nguồn vốn này, Quảng Ninh coi trọng phát huy tối đa nội lực và thu hút mạnh mẽ ngoại lực, trong đó nội lực là cơ bản, chiến lược, lâu dài, ngoại lực là quan trọng, đột phá:
Tiếp tục ban hành và thực hiện cơ chế chính sách với trọng tâm là cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng, cởi mở với luật chơi mới tin cậy, bình đẳng, sẵn sàng đối thoại, sẵn sàng hành động. Tăng cường và đổi mới hoạt động xúc tiến đầu tư, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi nhất cho doanh nghiệp; chú trọng thu hút vốn đầu tư với hướng vận động là các tập đoàn, công ty xuyên quốc gia của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ, Trung Đông, Châu Âu;

Đối với Quảng Ninh, năm 2012 được xác định là năm xây dựng chiến lược và quy hoạch với chủ trương sẽ mời các nhà tư vấn về lập chiến lược, quy hoạch, kiến trúc, xây dựng hàng đầu thế giới tham gia. Chiến lược, quy hoạch rõ ràng, có tầm nhìn sẽ khiến cho công tác quản lý nhà nước chặt chẽ hơn, và các sản phẩm quy hoạch chất lượng, có đẳng cấp quốc tế sẽ là môi trường tốt để có các dự án tốt thu hút các nhà đầu tư, huy động và phát huy tối đa nguồn lực phát triển cho tỉnh. Đồng thời thông qua các tư vấn quốc tế nổi tiếng để quảng bá, mời gọi các nhà đầu tư lớn của quốc tế, khu vực đến với Quảng Ninh;

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và phát triển liên vùng. Trọng tâm trong hợp tác quốc tế (nhất là tăng cường giao lưu liên kết hợp tác với các thành phố khác trên thế giới có lĩnh vực phát triển tương đồng) để thu hút nguồn lực của Quảng Ninh hiện nay là Nhật Bản, Trung Quốc và đang hướng tới là Mỹ, châu Âu và các nước khu vực Trung Đông. Ở trong nước, chủ động nghiên cứu cơ chế liên kết để tận dụng tối đa các nguồn lực trong hợp tác phát triển liên vùng (với các địa phương cận kề như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Giang; Bắc Ninh, Lạng Sơn…) theo tinh thần của Nghị quyết số 54-NQ/TW, ngày 14/9/2005 về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng Sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Những liên kết cần chú ý là hạ tầng; liên kết về thương mại dịch vụ; liên kết phát triển nguồn nhân lực; liên kết về khám chữa bệnh; liên kết sản xuất sản phẩm hàng hóa phục vụ cho các địa phương, cụ thể là sản phẩm nông nghiệp; liên kết phát triển du lịch dịch vụ và phát triển kinh tế xanh; hỗ trợ giữ gìn trật tự an toàn xã hội và cuối cùng là tăng cường trao đổi cấp cao nhằm tìm ra những vấn đề cần liên kết, giải quyết các vướng mắc;

Tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực từ đất, khoáng sản và thị trường vốn. Phát huy tối đa hiệu quả nguồn lực từ đất thông qua các hình thức hợp tác đầu tư PPP, BOT, BT…; Nghiên cứu đề xuất để tỉnh Quảng Ninh được vay vốn từ các tổ chức tài chính (ngân hàng thương mại, quỹ đầu tư, công ty tài chính…) với hình thức dùng đất hoặc than đá làm tài sản thế chấp, trả lại tiền vay từ thu phí hạ tầng để tập trung xây dựng hệ thống hạ tầng điện, thủy lợi, đê sông, đê biển, kè sông biên giới, các khu neo đậu tránh trú bão, hạ tầng các khu du lịch sinh thái, biển đảo, nghỉ dưỡng hiện đại chất lượng cao (Vân Đồn, Hạ Long). Được phát hành trái phiếu xây dựng Quảng Ninh, xây dựng quỹ đầu tư xây dựng phát triển tỉnh Quảng Ninh;
Đối với nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nghiên cứu đề xuất kiến nghị Trung ương để lại đáng kể nguồn thu từ hoạt động xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh để Quảng Ninh có nguồn lực hỗ trợ và đầu tư dứt điểm, đồng bộ và hiện đại các công trình hạ tầng chiến lược như đường cao tốc, sân bay, hạ tầng công nghiệp và dịch vụ; đặc biệt là khắc phục ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do khai thác than hàng trăm năm nay; hoàn thiện hạ tầng y tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, công nghệ thông tin.

 
Nguồn: Báo diễn đàn Doanh nghiệp
Từ khóa:

n/a

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

TIN HOẠT ĐỘNG

Đưa sản phẩm OCOP Quảng Ninh vươn xa
Cùng với chú trọng đầu tư chất lượng, mẫu mã sản phẩm, thời gian qua, với sự chủ động của các cấp, ngành, địa phương trong hoạt động xúc tiến thương mại (XTTM),...